Lạm phát là gì

Lạm phát vốn là một cụm từ khá “quen tai” đặc biệt đối với những ai trong lĩnh vực kinh tế, tài chính. Vậy thực sự bạn đã định nghĩa đúng “hai từ” lạm phát, lạm phát là do đâu, liệu có cách nào khắc phục tình trạng lạm phát. Bài viết dưới đây sẽ là câu trả lời đầy đủ nhất cho bạn về vấn nạn này.

Lạm phát là gì?

Lạm phát
Lạm phát là gì?

Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.

Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu.

Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát.

Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự “ổn định giá cả”. Khái niệm lạm phát là gì? Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các quy luật về hàng hoá không được tôn trọng, nhất là các quy luật lưu thông tiền tệ.

Ở đâu còn sản xuất hàng hoá, còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn ẩn náu khả năng lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm.

Hoặc bạn có thể hiểu đơn giản lạm phát là tình trạng tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo một khoảng thời gian nhất định, làm cho đồng tiền bị mất giá trị hơn so với trước.

Khi mức giá chung tăng cao, vẫn với một số tiền nhất định thì sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây. Do đó nó còn phản ánh sự suy giảm sức mua của đồng tiền.

Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường: “Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian”.

Có những loại lạm phát nào?

Lạm phát
Phân loại lạm phát

Siêu lạm phát

Siêu lạm phát diễn ra khi lạm phát tăng với một tốc độ hơn cả mức lạm phát bình thường. Loại hình này được ví như một “căn bệnh giết người”, tiền tệ lưu thông nhanh chóng, giá cả thậm chí tăng vù vù trong khi trên thực tế lương sẽ bị giảm

Lạm phát phi mã

Đây là cấp độ lạm phát đứng sau cấp độ siêu lạm phát nên có thể hiểu lạm phát phi mã diễn ra khi giá thị trường “tương đối” tăng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng chỉ số hóa.

Trong thời gian này mọi người sẽ tích trữ tài sản dưới dạng vàng bạc, hàng hóa và bất động sản mà thậm chí nếu cho vay tiền thì cũng sẽ không ở mức bình thường. Vậy nên hãy cẩn thận với hậu quả của nó khi nó diễn ra đủ lâu để lớn mạnh.

Lạm phát vừa phải

Đây là cấp độ lạm phát thấp nhất, nó còn được gọi bằng một cái tên khác là “lạm phát một con số”, tức là tỷ lệ dưới 10% trong vòng 1 năm. Thời điểm này mọi hoạt động  kinh tế thị trường vẫn diễn ra đều đặn, đời sống con người bình thường.

Cụ thể như mặc cho giá cả tăng lên chậm, tiền lãi suất gửi không được cao , không xẩy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn….

Có thể nói lạm phát vừa phải tạo nên tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này, các hãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.

Nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Do chi phí đẩy

Lạm phát
Lạm phát – Nguyên nhân là gì?

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp chắc chắn cũng tăng lên.

Vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận. Như thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng.

Ví dụ: Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ. Nếu tiền lương tăng nhanh hơn năng suất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên.

Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn trước để phù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên, điều đó tạo vòng xoáy lượng giá.

Do cầu kéo

Nếu cầu về hàng hoá vượt mức cung xong sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được gia tăng của cầu.

Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy. Lạm phát do cẩu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo được ra đời từ đó. Hiểu nôm na là khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên, sẽ kéo theo giá cả tăng.

Đồng thời, dẫn đến giá cả của hàng loạt hàng hóa khác cũng “leo thang”. Như vậy, giá trị của đồng tiền cũng trở nên mất giá, bạn phải dùng nhiều tiền hơn để mua hàng hóa.

Ví dụ: khi giá xăng tăng lên thì hầu như tất cả các hàng hóa dịch vụ đều tăng theo như taxi, grab, hàng nhu yếu phẩm…

Lạm phát do xuất khẩu

Là hiện tượng lạm phát do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng. Tổng cầu từ trong nước lẫn nước ngoài khiến tổng cung không đủ để cung ứng. Khi đó, các sản phẩm thiếu hụt này sẽ đẩy giá cả lên.

Lạm phát do nhập khẩu

Khi hàng hóa nhập khẩu tăng do thuế hoặc giá cả trên thế giới, khiến giá bán ra trong nước cũng tăng theo. Và nếu mức giá chung bị giá cả của nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

Xem thêm:  Vietcombank tuyển dụng lao động đợt II/2020

Lạm phát do tiền tệ

Đây là nguyên nhân từ các ngân hàng khiến lượng tiền trong nước tăng, phát sinh lạm phát. Khi ngân hàng tiến hành mua ngoại tệ vào để giữ đồng tiền trong nước không mất giá. Hoặc, có thể do ngân hàng mua công trái theo yêu cầu nhà nước, khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên nhiều.

Đo lường lạm phát ra sao?

Lạm phát
Cách đo lường lạm phát chuẩn xác nhất.

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh…

Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm các hàng hóa thiết yếu. Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát.

Nếu mức giá chung giảm, ta có giảm phát. Nếu chỉ có một vài mặt hàng chẳng hạn như giá đường, hay giá gạo tăng một cách đơn lẻ thì không có nghĩa là lạm phát, mà đơn giản chỉ là một sự mất cân đối tạm thời giữa cung và cầu trong ngắn hạn. Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền bị sụt giảm.

Ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế

Lạm phát
Lạm phát -và những ảnh hưởng tiêu cực

Ảnh hưởng tiêu cực

» Lãi suất

Lạm phát ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế , chính trị, văn hóa, nó có khả năng gây ra tình trạng suy thoái kinh tế, tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tác động đầu tiên của lạm phát là lãi suất khiến lãi suất danh nghĩa tăng lên để lãi suất thực được ổn định nhưng cũng khiến suy thoái kinh tế bắt đầu phát triển.

» Thu nhập không bình đẳng

Giá trị đồng tiền giảm khi lạm phát tăng khiến lãi suất tăng lên, người lao động sẽ có lợi trong việc vay trả vốn góp. Những việc này lại khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường.

Tình trạng những người dân nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày càng phổ biến, người giàu lại càng giàu có hơn làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

» Nợ quốc gia

Các quốc gia đang phát triển sẽ có những khoản nợ nước ngoài, khi lạm phát tăng cao dẫn đến tỷ giá giá tăng, đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Chính phủ được lợi từ nguồn tiền trong nước nhưng lại thiệt so với ngoại tệ làm tình trạng nợ quốc gia ngày một trầm trọng hơn.

» Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng

Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuống, người đi vay sẽ có lợi trong việc vay vốn trả góp để đầu cơ kiếm lợi. Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế, đẩy lãi suất lên cao.

» Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có, dùng tiền của mình vơ vét và thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung – cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoá cũng lên cơn sốt cao hơn.

» Thu nhập thực tế của người lao động

Khi xuất hiện lạm phát, thu nhập danh nghĩa của người lao động không thay đổi, tuy nhiên thu nhập thực tế lại giảm. Bởi lẽ thu nhập ròng của người lao động sẽ bằng thu nhập danh nghĩa của chữ tỷ lệ lạm phát bị giảm. Đó không chỉ là vấn đề của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động cũng như lòng tin của họ đối với Chính Phủ.

Ảnh hưởng tích cực

Mặc dù lạm phát đem đến khá nhiều tiêu cực cho đời sống sinh hoạt cũng như nền kinh tế, chính trị của một quốc gia, tuy nhiên nó cũng có khá nhiều lợi ích như. Khi tốc độ lạm phát tự nhiên được duy trì ổn định từ 2 – 5% thì tốc độ phát triển kinh tế của đất nước đó khá ổn định. Cụ thể là:

• Tỷ lệ thất nghiệp giảm, tiêu dùng tăng, vay nợ và đầu cơ an toàn hơn
• Chính phủ có thêm nhiều lựa chọn về công cụ kích thích đầu tư vào nội tệ.

Phương pháp hạn chế lạm phát

Lạm phát
Phương pháp hạn chế tình trạng lạm phát

Thi hành chính sách tài chính thắt chặt như:

  • Tạm hoãn các khoản chưa chưa cần thiết
  • Cân đối lại ngân sách Nhà nước
  • Cắt giảm chi tiêu

Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông

  • Khuyến khích tự do mậu dịch
  • Giảm thuế quan
  • các biện pháp hàng hóa từ ngoài vào
  • Đi vay viện trợ nước ngoài

Cải cách tiền tệ:

  • Ngừng phát hành tiền vào trong lưu thông nhằm giảm lượng tiền trong xã hội.
  • Tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng để kích thích giảm tiền trong lưu thông, đưa vào ngân hàng, tăng giá trị tiền tệ hơn.
  • Giảm sức ép trên giá cả dịch vụ và các mặt hàng hóa.
  • Phát hành trái phiếu

Giảm bớt lượng tiền trong lưu thông

  • Ngừng phát hành tiền vào trong lưu thông nhằm giảm lượng tiền đưa vào lưu thông trong xã hội.
  • Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc: Đây là biện pháp nhằm giảm lượng cung tiền vào thị trường. Biện pháp này tác động đến tất cả các ngân hàng và bình đằng giữa các ngân hàng với nhau.
  • Nâng lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tiền gửi: Biện pháp này sẽ làm hạn chế các ngân hàng thương mại mang các giấy tờ có giá đến ngân hàng nhà nước để chiết khấu. Ngoài ra việc nâng lãi suất tiền gửi sẽ hút khiến người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn
  • Ngân hàng trung ương áp dụng nghiệp vụ thị trường mở nhằm bán các chứng từ có giá cho các ngân hàng thương mại.
  • Ngân hàng trung ương bán vàng và ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại.

Lạm phát ở Việt Nam

Đã từng có những thời kỳ, Việt Nam rơi vào mức lạm phát phi mã và kéo dài khiến cho nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng (nhất là thời kì cuối thập niên 70 đến đầu thập niên 90). Tuy nhiên, những năm gần đây, lạm ở Việt Nam giảm rõ rệt và liên tục duy trì ở mức thấp. Khoảng 5 năm trở lại đây, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam duy trì ở mức dưới 5%.

Trên đây là những thông tin về lạm phát, nguyên nhân cũng như những biện pháp tránh khỏi tình trạng này. Nếu bạn còn bất kỳ câu hỏi hay thắc mắc nào liên quan đến vấn đề lạm phát, có thể để lại bình luận phía dưới để được giải đáp nhé.

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Lượt bình luận
Phản hồi trong bài viết
Xem tất cả bình luận