GPD là gì?

GDP là một thuật ngữ vô cùng quen thuộc trong lĩnh vực kinh tế, được sử dụng rộng rãi khi nói về các vấn đề tài chính. Thế nhưng không phải ai cũng hiểu rõ thực chất GDP là gì? Chỉ số này có ý nghĩa ra sao và cách tính như thế nào. Tất cả những câu hỏi trên sẽ được EzCash giải đáp toàn bộ trong bài viết dưới đây.

GDP là gì?

GDP là cụm từ viết tắt của Gross Domestic Product. Đây là chỉ số thể hiện tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm nội địa. GDP giá trị thị trường tất cả các sản phẩm được sản xuất ra trên một vùng lãnh thổ được tính trong một khoảng thời gian cố định như: Từ 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm tùy thuộc vào từng lĩnh vực.

Gdp
GDP là gì?

Tất cả những sản phẩm, dịch vụ, ngành nghề đều được tính bởi giá trị GDP thậm chí cả công ty nước ngoài ở trong quốc gia đó. Thực chất thì GDP chính là một chỉ số được đưa ra để đánh giá tổng quan về tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đánh giá về mức độ phát triển của một vùng/ quốc gia.

Gần đây, trong các tài liệu thống kê mang tính nghiêm ngặt, thuật ngữ tiếng Anh national gross domestic product – NGDP hay được dùng để chỉ tổng sản phẩm quốc nội, regional (hoặc provincial) gross domestic product – RGDP hay dùng để chỉ tổng sản phẩm nội địa của địa phương. GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó.

GDP đầu người là gì?

Trong GDP có GDP bình quân đầu người được nhắc đến nhiều hơn bao giờ hết. Bởi vì GDP đầu người là một “thước đo” phản ánh mức thu nhập cũng như mức sống của người dân trong một nước/ vùng/ lãnh thổ/ quốc gia. Chỉ số GDP bình quân đầu người chỉ ở mức tương đối chính xác. Với thời gian tính trong 365 ngày nên không thể chính xác được tuyệt đối.

Tuy chỉ mang tính chất tương đối, nhưng  những chỉ số thống kê này đối với từng quốc gia có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thống kê kinh tế tổng hợp. Dựa vào chỉ số này bạn có thể biết được kết quả sản xuất bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Khi đánh giá chỉ số bình quân đầu người cao sẽ tỷ lệ thuận với mức thu nhập và mức sống của dân cư khu vực, quốc gia đó. Mặc dù là vậy nhưng không có nghĩa là một quốc gia GDP cao đã là một quốc gia có mức sống cao.

Ý nghĩa của chỉ số GDP

Chỉ số GDP  là thước đo đánh giá tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Sự so sánh giữa 1/4 tổng sản phẩm quốc nội giữa các quý trước. Bên cạnh đó, GDP còn là thước đo sản lượng kinh tế của một đất nước.

Gdp
Ý nghĩa của chỉ số GDP với nền kinh tế

Động lực chính cho tăng tưởng GDP đó là tiêu dùng cá nhân. Yếu tố này bao gồm các lĩnh vực trọng yếu của bán lẻ. Tiếp đến là đầu tư kinh doanh, trong đó có chứa lĩnh vực xây dựng và mức tồn kho. Bên cạnh đó là chỉ tiêu của chính phủ, các khoản trợ cấp An sinh xã hội, chi tiêu quốc phòng và các loại trợ cấp khác. Trong thời kỳ suy thoái chính phủ sẽ gia tăng chi tiêu để đẩy nhanh nền kinh tế. Dộng lức cuối cùng cho tăng trưởng GDP đó là thương mại ròng. Xuất khẩu thêm vào GDP trong khi nhập khẩu trừ đi từ đó.

Có thể thấy, khi GDP giảm sẽ có những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc gia và nghiêm trọng hơn là xảy ra các tình trạng như lạm phát, thất nghiệp, lạm phát, tiền mất giá… Những vấn đề này sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến các doanh nghiệp và đời sống dân cư trong một quốc gia.

Ưu điểm và hạn chế của chỉ số GDP

Gdp
Ưu và nhược điểm của chỉ số GDP

Ưu điểm của GDP

GDP là chỉ số phản ánh một phần mức sống, được sử dụng một cách phổ biến, rộng rãi và nhất quán. Theo từng quý chỉ số GDP được cung cấp liên tục và mang tính chất chuyên ngành nên không có sự khác biệt giữa các quốc gia.

Hạn chế của GDP

Tuy là một loại chỉ số trong nền kinh tế của mỗi quốc gia nhưng GDP vẫn không hoàn toàn thể hiện đầy đủ, cụ thể được thực trạng kinh tế của quốc gia đó. Bởi lẽ:

  • Việc đánh giá kích cỡ của nền kinh tế được thông qua chỉ số GDP tuy vậy chúng ta cũng không đánh giá chính xác được mức sống của người dân.
  • Trong chỉ số GDP không chứa các loại hình khác như: kinh tế phi tiền tệ,  kinh tế ngầm, trao đổi, sản xuất hàng hóa tại gia,…nên chỉ số  này không hoàn toàn chính xác.
  • Chỉ số GDP không tính được hoàn toàn về những yếu tố cần thiết hài hòa trong sự phát triển kinh tế. Đơn giản như một quốc gia có chỉ số kinh tế phát triển cao nhưng lại cạn kiệt, suy thoái tài nguyên thiên nhiên. Bởi lẽ trong quá trình sản xuất phát triển đã gây ra tình trạng đó. Tất cả những điều này đều không được tính đến trong chỉ số này.
  • Mức độ đóng góp, tham gia của dân số trong một quốc gia cũng chưa được phản ánh đầy đủ và rõ ràng trong chỉ số GDP. Ví dụ như quốc gia có chỉ số GDP có thể đến từ kết quả của nhóm dân số có kinh tế ở mức giàu đem lại cho nền kinh tế trong khi đa số dân cư đều ở mức nghèo.

Phân biệt GDP danh nghĩa và GDP thực tế

Gdp
GDP Danh nghĩa và GDP thực tế

GDP danh nghĩa

Chính là giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ tính theo giá hiện hành. Có nghĩa là tổng của lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá của hàng hoá và dịch vụ ấy trong năm đó. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, một năm có hàng nghìn mức giá biến động lên xuống khác nhau đối với mỗi sản phẩm hay dịch vụ. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng phương pháp bình quân gia quyền để tính ra mức giá chung của mỗi sản phẩm, dịch vụ.

 GDP danh nghĩa được tính theo công thức sau: 

GDPin=∑QitPit

Sự gia tăng của GDP danh nghĩa hàng năm có thể do lạm phát.

Trong đó:

  • i: :Loại sản phẩm thứ i với i =1,2,3…,n
  • t: Thời kỳ tính toán
  • Q: Số lượng sản phẩm; Qi: số lượng sản phẩm loại i
  • P: Giá của từng mặt hàng; Pi: giá của mặt hàng thứ i.

GDP thực tế

Tên tiếng anh là Real GDP. Đây là giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ hiện hành của nền kinh tế được đánh giá theo mức giá cố định của năm cơ sở (năm gốc). Có nghĩa là tổng của lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá cố định của các hàng hoá và dịch vụ ấy trong năm gốc.

Xem thêm:  Fintech là gì? Tất cả thông tin về Fintech từ A-Z

GDP thực tế được đưa ra nhằm điều chỉnh lại của những sai lệch như sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GDP danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GDP. GDP thứ nhất đôi khi được gọi là “GDP tiền tệ” trong khi GDP thứ hai được gọi là GDP “giá cố định” hay GDP “điều chỉnh lạm phát” hoặc “GDP theo giá năm gốc” (Năm gốc được chọn theo luật định).

GDP thực thường được Tổng cục thống kê Việt Nam cung cấp. Việc tính GDP thực được thực hiện bằng cách lấy GDP danh nghĩa chia cho hệ số giảm phát GDP:

GDP thực = GDP danh nghĩa/Hệ số giảm phát GDP

Ví dụ: Nếu giá của một nền kinh tế đã tăng 1% kể từ năm gốc, thì hệ số giảm phát là: 1 + 1%= 1,01

Nếu GDP danh nghĩa là $1.000.000, thì GDP thực được tính là:

GDP thực = $1.000.000/1,01 = $990.099

Khi GDP danh nghĩa cao hơn GDP thực, lạm phát đang xảy ra và khi GDP thực cao hơn GDP danh nghĩa thì giảm phát đang xảy ra đối với nền kinh tế.

Cách tính chỉ số GDP chính xác

Gdp
Cách tính chỉ số GDP chính xác

Tại sao phải tính chỉ số GDP?

Việc phân tích, tính toán GDP là cơ sở để thành lập các chiến lược phát triển kinh tế ngắn hạn và dài hạn. Chỉ số GDP là thước đo để đánh giá tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Không chỉ vậy, thông qua GDP bình quân đầu người ta biết được mức thu nhập tương đối cũng như chất lượng sống của người dân ở từng quốc gia.

Tuy nhiên, GDP vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như: Không phản ánh đầy đủ các hoạt động sản xuất (tự cung, tự cấp, không kiểm soát được chất lượng của hàng hóa). GDP bỏ qua chất lượng môi trường (tiếng ồn, khói bụi, giao thông…) và thời gian nghỉ ngơi chưa được tính đến.

Cụ thể như, trong quá trình phát triển của một quốc gia vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề xoay quanh như nó không thể tính được chi phí về môi trường, cũng không đo lường được hạnh phúc xã hội, những mặt hàng không được ghi lại, không được đánh thuế và không có mặt trong báo cáo hồ sơ của quốc gia, còn cả những dịch vụ chưa thanh toán đều chưa được tính. GDP cũng chưa tính được nền kinh tế đen, nơi mà tất cả các quốc gia đều tồn tại.

3 Công thức tính chỉ số GDP

Tính chỉ số theo phương pháp chi phí ( thu nhập)

Theo phương pháp này, GDP sẽ được tính bằng cách tính tổng tiền lương, tiền lãi, lợi nhuận và tiền thuê sinh ra trong nền kinh tế nội địa. Công thức tính như sau:

GDP = W + I + Pr + R + Ti + De

Trong đó:

  • W (Wage): Tiền lương
  • I (Interest): Tiền lãi
  • Pr (Profit): Lợi nhuận
  • R (Rent): Tiền thuê
  • Ti (Indirect tax): Thuế gián thu (loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ)
  • De (Depreciation): Phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định

Tính chỉ số theo phương pháp chi tiêu 

Phương pháp này tính tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia là tổng cộng tất cả số tiền mà các hộ gia đình trong quốc gia sử dụng để mua sẵm và sử dụng dịch vụ. Như vậy ta có thể nhanh chóng tính tổng sản phẩm quốc gia bằng cách tính tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của mỗi gia đình cuối cùng hàng năm.

GDP=C+G+I+NX

Trong đó:

  • C là tiêu dùng của hộ gia đình
  • G là tiêu dùng của chính phủ
  • I là tổng đầu tư I=De+In
  • De – depreciation là khấu hao In – net investment là khoản đầu tư ròng (khoản chi tiêu mở rộng quy mô của tư bản hiện vật)
  • NX: cán cân thương mại NX=X-M
  • X (export) là xuất khẩu
  • M (import) là nhập khẩu

Tính chỉ số theo phương pháp tính theo giá trị gia tăng

Phương pháp này là tổng cộng tất cả giá trị gia tăng của nền kinh tế trong một thời gian nhất định.

Tổng sản phẩm quốc nội = Giá trị tăng thêm + thuế nhập khẩu

Hoặc GDP = Giá trị sản xuất – chi phí trung gian + thuế nhập khẩu

Giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế là gồm:

  • Thu nhập của người sản xuất như tiền lương, tiền công, tiền hoặc hiện vật, bảo hiểm, công đoàn,
  • Thuế sản xuất: thuế hàng hóa và các chi phí khác.
  • Khấu hao tài sản cố định
  • Giá trị thặng dư
  • Thu nhập khác

Phân biệt GDP và GNP

Gdp
Phân biệt GDP và GNP

Về khái niệm tất nhiên GNP và GDP rất khác nhau. GNP là Gross National Product hay còn gọi là Tổng sản lượng quốc gia, là một chỉ tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế đất nước tính bằng tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian (1 năm) không kể làm ra ở đâu (trong hay ngoài nước).

Thu nhập được tính vào GNP, phụ thuộc vào ai là chủ sở hữu các yếu tố sản xuất chứ không phải việc sản xuất diễn ra ở đâu.

Giống nhau

  • Cả hai đều là những khái niệm chung được sử dụng trên toàn thế giới.
  • Cùng thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ mô
  • Đánh giá sự phát triển kinh tế quốc gia
  • Tính toán dựa trên công thức xác định
  • Con số cuối cùng của một quốc gia/năm

Khác nhau

Công thức tính :

  • Công thức tính GDP là tổng tiêu dùng: GDP = C + I + G + NX
  • Công thức tính GNP là tổng sản phẩm quốc gia: GNP = C + I + G + (X – M) + NR.

Bản chất:

  • GDP: Là chỉ số tổng sản phẩm quốc nội hay bên trong quốc gia. Chỉ số GDP là toàn bộ giá trị được các thành phần kinh tế hoạt động trong lãnh thổ của quốc gia đó tạo ra trong khoảng thời gian 1 năm. Các thành phần kinh tế đóng góp vào chỉ số GDP bao gồm các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài hoạt động tại quốc gia đó.
  • GNP: Là chỉ số phản ánh tổng sản phẩm quốc dân, nghĩa là cả trong và ngoài nước. Chỉ số GNP là toàn bộ giá trị được công dân mang quốc tịch nước đó sản xuất ra trong thời gian 1 năm. Giá trị được tạo ra ở bất cứ nơi đâu miễn là bởi công dân của quốc gia đó thì sẽ được tính vào chỉ số này.

Trên đây là những khái niệm bạn cần nắm được về chỉ số GDP và 3 phương pháp tính chỉ số này. Hy vọng với những thông tin trong bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn trong quá trình đánh giá và nhìn nhận tình hình kinh tế cũng như tăng trưởng kinh tế thông qua chỉ số GDP.

Đăng ký
Thông báo về
guest
0 Lượt bình luận
Phản hồi trong bài viết
Xem tất cả bình luận